Sự khác biệt giữa cuốn thư, châm thư và hoành phi

Sự khác biệt giữa cuốn thư, châm thư và hoành phi

Trâm thư cổ là dạng câu chữ được viết hoặc khắc trên gỗ, đá, thường mang nội dung giáo huấn, răn dạy hoặc vịnh cảnh. Loại hình cổ truyền này vừa mang giá trị mỹ thuật, vừa truyền tải tư tưởng đạo đức, tri thức và quan niệm sống. Trâm thư cổ còn chứa giá trị tinh thần sâu sắc: một mặt là tác phẩm nghệ thuật, mặt khác truyền lại cho con cháu những lời dạy về nhân cách, lòng kính trọng, sự học hành và tình yêu đối với thiên nhiên, cảnh vật. Qua từng câu chữ, dấu ấn văn hóa được lưu giữ và truyền nối qua nhiều thế hệ. Cuốn thư thường là một câu gồm vài chữ mang ý đẹp, thể hiện điều người viết muốn gửi gắm. Chữ trên cuốn thư thường có kích thước lớn, dễ quan sát, vừa tạo nét trang trí vừa gợi lời răn nhắc. Trâm thư lại thiên về thể văn ngắn, cô đọng, câu chữ được chắt lọc kỹ; nét khắc thường nhỏ hơn, vừa giáo huấn hậu thế vừa dùng để vịnh cảnh. Nhiều người đánh giá trâm thư cổ quý ở nghệ thuật tạo tác chữ cùng dấu ấn lịch sử hơn là giá trị vật chất. Vì vậy, những ai trân trọng mỹ thuật truyền thống thường dành sự quan tâm riêng cho dòng hiện vật cổ này.

 

Trâm Thư Thờ Chữ MINH CHÂU LƯƠNG NGỌC​

Trâm Thư Cổ Chữ MINH CHÂU LƯƠNG NGỌC hay Ngọc đẹp Minh Châu mang ý nghĩa thiện sáng, đẹp tựa ngọc minh châu. Hai từ Lương - Minh đóng vai trò tính từ bổ nghĩa cho Châu và Ngọc. Hai vế của bức hoành phi gợi hình ảnh châu lấy từ các loài trai có ánh sáng trong trẻo, còn ngọc được tạo nên từ những loại đá quý, qua đó ca ngợi vẻ đẹp trong sáng và giá trị cao quý.

 

Trâm Thư Thờ Chữ Cổ Chữ Xuân- Thung- Xuân- Huyên

Trâm Thư Thờ Chữ Xuân Thung Xuân Huyên xuất hiện trong không gian thờ tự, gợi lời nhắc về đạo hiếu qua lời nói, hành động và việc dâng cúng. Cụm chữ Xuân Huyên cũng được dùng để tôn kính công ơn cha mẹ, gửi gắm tình cảm hiếu kính của con cháu.

 

Trâm Thư Cổ Thờ Chữ Sinh- Ý- Sấm- Nhiên

Trâm Thư Thờ Chữ “Sinh Ý Sấm Nhiên” (然闖意生) gợi một tinh thần giàu sức sống, kết hợp sự an nhiên với ý chí tiến về phía trước. “Sinh Ý” nhấn vào sức sống, sự phát triển và khởi đầu những điều mới; “Sấm Nhiên” lại gợi hình ảnh tiếng sấm bùng nổ, mạnh mẽ mà tự nhiên. Toàn bộ câu chữ tạo nên hình ảnh về một nguồn sinh khí đầy năng lượng, quyết đoán nhưng vẫn thuận theo tự nhiên.

 

Trâm Thư Cổ Thờ Chữ Quang- tiền- dụ- hậu

Trâm Thư Thờ Chữ “Quang Tiền Dụ Hậu” (光前裕後) mang ý “làm rạng rỡ tiền nhân và bồi đắp phúc đức cho hậu thế”. Khi tạo tác câu chữ, cần chú ý đúng dạng chữ Hán: chữ “Tiền” phải đúng bộ nguyệt, tránh nhầm sang chữ nhật; chữ “Dụ” cần đúng bộ y, không nhầm với bộ kì.

 

Trâm Thư Cổ Chữ Tản- Viên- Sơn- Thánh

Trâm Thư Cổ Chữ “Vĩnh- Vi- Hằng- Thức”

Trâm Thư Thờ Chữ “Vĩnh Vi Hằng Thức” (永為恆識) được hiểu là “luôn giữ nhận thức bền vững” hoặc “tâm thức vững bền”. Câu chữ hướng con người tới sự kiên định, sáng suốt và tự giác, nhắc giữ gìn hồn cốt tinh thần dân tộc cùng nhận thức đúng đắn trước những hoàn cảnh khác nhau.

 

Trâm Thư Cổ Chữ KHÍ TIẾT OANH OANH

Trâm Thư Thờ Chữ “Khí Tiết Oanh Oanh” (氣節鶯鶯) mang sắc thái trang trọng, mạnh mẽ, thường được khắc trên hoành phi hoặc câu đối nhằm ca ngợi phẩm chất cao quý của con người. “Khí tiết” nói về bản lĩnh, nhân cách và sự chính trực, gợi hình ảnh người quân tử cùng những bậc trung hiếu, nghĩa nhân luôn giữ đạo lý trước nghịch cảnh.

 

Trâm Thư Cổ Chữ Minh- Đức- Duy- Hinh

Trâm Thư Thờ Chữ Minh- Đức- Duy- Hinh được ghi niên hiệu Bảo Đại Đinh Sửu Xuân (1937), đến nay đã có khoảng 88 5 tuổi mang bốn chữ 明德惟馨 (Minh Đức Duy Hinh). Hoành phi thờ Minh- Đức- Duy- Hinh được đánh giá qua giá trị tinh thần cùng nguồn tư tưởng cổ xưa, không đơn thuần bởi tuổi đời gần trăm 5. Câu chữ được trích từ Kinh Thư, thiên Quân Trần – một áng kinh điển của Nho học, tôn vinh đức sáng và phẩm hạnh cao đẹp.

Trâm Thư Cổ Chữ Mãn Địa Đồng Xuân

Trâm Thư Thờ Chữ: Mãn Địa Đồng Xuân mang nghĩa “Mùa xuân phủ khắp mặt đất”, hoặc hiểu gần gũi là “Xuân tràn ngập khắp trời đất”. Thành ngữ Hán – Việt này xuất hiện trong thư pháp, hoành phi, khánh treo hay câu đối, diễn tả niềm vui, sinh khí và phúc lộc lan tỏa rộng khắp.