Hoành phi câu đối Lạc- quyên- nghĩa- hộ
Bức hoành phi “Lạc quyên nghĩa hộ” (chữ Hán: 樂捐義戶, phồn thể: 樂 = Lạc, 捐 = Quyên, 義 = Nghĩa, 戶 = Hộ) là một dạng tấm bằng phong kiến ghi nhận công đức. Dịch nghĩa ra tiếng Việt có thể hiểu là “Hộ nghĩa quyên góp với niềm vui” hoặc diễn nôm: “Gia đình nghĩa tình tự nguyện đóng góp với lòng vui vẻ”. Bức hoành phi Lạc quyên nghĩa hộ được vua ban cho những gia đình, dòng họ có công làm việc thiện giúp đỡ người nghèo khó khăn, hoạn nạn thể hiện lòng từ thiện, nghĩa hiệp và tinh thần trách nhiệm xã hội.
Bức hoành phi Lạc quyên nghĩa hộ
Hoành phi câu đối Kế- chí- cầu- sự
Bức hoành phi “Kế chí cầu sự” trích từ sách Lễ Ký - Trung Dung với nguyên văn 夫孝者,善繼人之志,善述人之事者也. Ý nghĩa cơ bản là người hiếu thảo là người biết kế thừa chí hướng của tiền nhân và khéo léo hoàn thành sự nghiệp mà họ để lại. Trong bút pháp hành thư trên hoành phi, chữ 逑 (cầu) được sử dụng thay cho chữ 述 (thuật) tạo ra cách diễn đạt mới mà vẫn giữ nguyên nội dung: tiếp nối chí hướng và theo đuổi sự nghiệp. Bức hoành phi “Kế chí cầu sự” nhấn mạnh tinh thần sâu sắc trong đạo lý gia tộc là lời nhắc nhở con cháu không quên chí nguyện của tổ tiên, phải kế tục sự nghiệp dòng họ để không bị gián đoạn.
Bức hoành phi Kế chí cầu sự
Hoành phi câu đối Phong- Vũ- Bí- Tâm
Hoành phi “Phong Vũ Bí Tâm” là tác phẩm thư pháp cổ điển thể hiện tinh thần và triết lý sâu sắc của Hán cổ. Bức hoành phi gồm các chữ: Phong Vũ Bí Tâm, trong đó “Phong Vũ” nghĩa là mưa gió tượng trưng cho những thử thách, gian nan trong đời sống; “Bí Tâm” là chữ “Bí” thuộc bộ “Ngôn” nhưng trong ngữ cảnh này có nghĩa là sáng suốt, trong sáng, thanh tịnh, gợi lên một tấm lòng tinh anh, minh triết.
Hoành phi Phong Vũ Bí Tâm
Hoành phi câu đối Thủy- Đức- Linh- Trường
Hoành phi “Thủy Đức Linh Trường” là tác phẩm thư pháp có giá trị tâm linh thường xuất hiện trong các không gian, đặc biệt là tại đền thờ các vị linh thần liên quan đến thủy phủ. Chữ Hán của bức hoành phi là 水德靈長, trong đó “Thủy” biểu thị nước, nhấn mạnh đến mối liên hệ với các vị quan hoặc Mẫu Thoải; “Đức” là đức hạnh, công đức; “Linh” chỉ sự linh thiêng, linh nghiệm; “Trường” mang nghĩa trường tồn, bền lâu. Một số người cũng đọc chữ “Trường” là “Trưởng” nhưng ý phổ biến vẫn nhấn mạnh tính lâu dài, bền vững của đức hạnh. Hoành phi thờ Thủy- Đức- Linh- Trường nhắc nhở người chiêm bái khi đứng trước bàn thờ phải giữ sự cung kính, trang nghiêm, trong sạch, đối với các vị tổ tiên hoặc linh thần. Đây là thông điệp phổ biến Á Đông, nơi mà sự nghiêm trang, tôn kính và ý thức về công đức của tổ tiên hay linh thần được đặt lên hàng đầu.
Hoành phi Thủy Đức Linh Trường
Hoành phi câu đối Nhân sinh do tổ
Bức hoành phi ghi bốn chữ “Nhân sinh do tổ” (人生由祖) được viết theo thể tiểu triện, trong đó chữ Tổ có phần hơi khác lạ so với chuẩn chữ Hán thường thấy. Trong đó, Nhân sinh chỉ đời người, sự tồn tại của con người, còn Do tổ nhấn mạnh rằng sự sống, dòng dõi và gia cảnh đều khởi nguồn từ tiên tổ. Tổng thể, câu “Nhân sinh do tổ” có nghĩa là “Con người sinh ra là nhờ tổ tiên”, nhắc nhở con cháu về công lao và vai trò quan trọng của tổ tiên trong sự sinh tồn và phát triển của gia tộc.
Hoành phi câu đối Nhân sinh do tổ
Hoành phi câu đối “Quân tử bình chính”
Hoành phi bằng chữ Hán là 君子平政, phiên âm “Quân tử bình chính” thể hiện quan niệm rằng bậc quân tử, người có đức hạnh và trí tuệ có khả năng duy trì sự ổn định chính trị giúp xã hội phát triển tốt đẹp. Đây là lời nhắc nhở về vai trò của con người có phẩm hạnh trong quản lý, điều hành đất nước và ảnh hưởng tích cực đến cộng đồng. Một phiên bản mở rộng giải thích: 君子之德風,小人之德草,草上之風必偃, nghĩa là “Đức hạnh của quân tử như gió, đức hạnh của tiểu nhân như cỏ, gió thổi trên cỏ tất phải nghiêng”.
Hoành phi quân tử chính bình 3
Hoành phi câu đối “Lan Quế Đằng Phương”
Hoành phi “Lan Quế Đằng Phương” có nghĩa là “Hương thơm bay cao như quế lan”, dùng hình ảnh ẩn dụ để ca ngợi phẩm hạnh, đức hạnh hay danh tiếng thanh cao, lan tỏa rộng khắp như hương thơm của cây quế và hoa lan tượng trưng cho sự thanh cao, tinh khiết, phẩm cách tốt đẹp của gia chủ hoặc các thành viên trong gia tộc.
Hoành phi Lan Quế Đằng Phương
Hoành phi câu đối “Quân tử thành nhân”
Hoành phi “Quân tử thành nhân” viết đầy đủ là Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ác. Tiểu nhân phân thị, nghĩa là “Việc tốt đẹp của người quân tử là trở thành người còn việc xấu của người không thành nhân thì phân biệt rõ với tiểu nhân”. Nó nhấn mạnh giá trị đạo đức, nhân cách: người quân tử chú trọng hoàn thiện bản thân và hành xử đúng đắn trong khi tiểu nhân thì ngược lại. Chữ Tử (子) trong Hoành phi “Quân tử thành nhân” đôi khi được viết thừa nét, khiến nhiều người nhầm thành chữ Dữ (予).
Câu đối Quân tử thành nhân
Hoành phi câu đối Dẫn- Chi- Phất- Thế
Hoành phi mang dòng chữ 引之弗替, đọc theo Hán-Việt là Dẫn chi phất thế có nghĩa là “dẫn dắt mà không thay đổi hay bỏ dở”. Hoành phi thờ Dẫn- Chi- Phất- Thế diễn tả sự kiên trì trong hướng dẫn, dìu dắt người khác một cách bền bỉ, không mỏi mệt và giữ vững đường lối, mục tiêu đã định. Nó được dùng để ca ngợi những người thầy, lãnh đạo hay bậc tiền bối những người luôn kiên định dìu dắt hậu sinh mà không thay lòng đổi dạ.
Hoành phi Dẫn Chi Phất Thế
Hoành phi câu đối Vạn- Xuân- Triệu- Thống
Vạn Xuân Triệu Thống đánh dấu sự khởi đầu của một giai đoạn cai trị quan trọng trong lịch sử nước Vạn Xuân. Sự kiện này mở ra một chuỗi các triều đại nối tiếp nhau, ghi dấu những bước phát triển và thay đổi trong cơ cấu quản lý và chính trị. Thời kỳ này được ca ngợi vì sự ổn định và đóng góp của triều Tiền Lê tạo nên nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài của đất nước.
Hoành phi Vạn Xuân Triệu Thống