Bộ sưu tập hình ảnh thực tế

  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường
  • Hoành phi câu đối cho từ đường

Hoành phi câu đối cho từ đường

4.8/5 (61 đánh giá)
Giá: 16.400.000đ

Hoành phi từ đường là nét chấm phá đặc trưng trong bức tranh văn hóa thờ cúng của người Việt, tôn vinh điển tích hiếu kính cùng gia phong tộc tự lâu đời.

Hoành phi câu đối từ đường họ Lê chữ LÊ TỪ ĐƯỜNG

Hoành phi câu đối từ đường họ Lê chữ LÊ TỪ ĐƯỜNG hay nhà thờ họ Lê. Chữ từ hay chữ đường đã hàm ý là nhà thờ, nên viết " lê tộc đường" hay " lê tộc từ". Ghép ý nghĩa: “Lê Từ Đường” = Ngôi từ đường của họ Lê, nơi con cháu tụ họp, phụng thờ tiền nhân và duy trì gia phong dòng họ.

Hoành phi câu đối từ đường họ Phan chữ Phan từ đệ tứ

Hoành phi câu đối từ đường họ Phan với dòng chữ “Phan Từ Đệ Tứ” gói trọn niềm tôn kính, thể hiện truyền thống thờ tự và đạo lý gia tộc. Trong đó, Phan (潘) là họ Phan, Từ (思) có thể là tên cá nhân hoặc chữ định danh đời sau, còn Đệ Tứ (第四) thể hiện vị trí thứ tư trong gia tộc hoặc danh sách con cháu. Câu đối đi kèm gồm: 1. “Tự hoá huyền tôn, Phan xuất biệt điều quân thác ấm” và 2. “Bốc doanh cao tẩm, Đường nhưng cựu quán hỷ sơ thành” không chỉ tôn vinh ân sâu nghĩa nặng của các bậc tiền hiền mà còn ghi dấu ý nghĩa lịch sử và sự gắn kết các thế hệ trong dòng họ.

Hoành phi câu đối từ đường chữ Quyết Xương Hậu

Hoành phi câu đối từ đường với dòng chữ “Quyết Xương Hậu” (克昌厥後) như một lời răn dạy trang trọng, thể hiện vinh quang và hồng phúc truyền cho hậu thế con cháu, đồng thời xác lập vận thế hưng vượng vĩnh cửu cho dòng họ. Trong đó, Quyết (決) mang nghĩa quyết định, định đoạt, chọn lựa; Xương (葬) biểu thị táng, mai táng, chôn cất; còn Hậu (後) chỉ hậu thế, con cháu hoặc đời sau.

Hoành phi câu đối từ đường họ Hoàng chữ Hoàng- Phủ- Đường

Hoành phi câu đối từ đường họ Hoàng chữ Hoàng- Phủ- Đường được ghi nhận với nội dung Hán Nôm là Hoàng Phủ Đường. Tên này cũng được đọc là Hoàng y đường hoặc Hoàng phủ đường, tùy cách phiên âm nhưng đều chỉ cùng một nghĩa. Hoành Phi Hoàng Phủ Đường gợi nhắc phong tục xưa: “Phủ đường” được người xưa dùng để chỉ nơi làm việc và nơi ở của quan lại thời phong kiến. Do đó, bức hoành phi được treo ở ngoài cổng để ghi nhận quyền sở hữu, gia tộc hoặc địa vị vừa duy trì được nét trang trọng cùng chuẩn mực trong văn hóa Hán Nôm. Hoành Phi Hoàng Phủ Đường thường liên quan đến nhà họ Hoàng, cũng như các gia tộc khác có truyền thống lập phủ đường. Qua đó, tên gọi không chỉ định vị không gian mà còn là hồn cốt của di sản, vị thế và nền tảng gia tộc lâu đời trong cộng đồng làng xã xưa.

Hoành phi câu đối từ đường họ Trần chữ Trấn- Gia- Thanh

Hoành phi câu đối từ đường họ Trần với dòng chữ “Trấn Gia Thanh” chứa đựng thông điệp tốt đẹp và thường hiện diện trang trọng tại các nhà thờ họ hoặc tư gia có truyền thống Nho học. Trong đó, Trấn (鎮) nghĩa là giữ yên, trấn định và bảo vệ; Gia (家) chỉ nhà, gia đình hoặc dòng tộc; còn Thanh (清) biểu thị sự trong sạch, thanh khiết và yên bình. Cụm chữ Trấn Gia Thanh mang hàm ý “Giữ cho nhà được thanh bình, trong sạch và yên ổn,” thể hiện mong muốn gia đạo an hòa, con cháu hiếu thuận, nhà cửa hưng thịnh, đồng thời tránh xa điều thị phi, duy trì nền nếp gia phong và sự thanh tịnh trong tâm lẫn trong nhà.

Hoành phi câu đối từ đường họ Nguyễn Phú

Từ đường dòng họ Nguyễn Phú tại vùng Đông Ngàn xưa, nay thuộc Đông Hội, Đông Anh (Hà Nội), là công trình tôn vinh hơi thở văn hóa và di sản văn hóa lâu đời. Ngôi từ đường giản dị, cổ kính là nơi neo đậu cội nguồn dòng họ của một danh nhân tiêu biểu cho phẩm chất “Cần, Kiệm, Liêm, Chính”. Mặc dù không cầu kỳ hoa lệ, từng dòng chữ Hán trên hoành phi và câu đối lại chứa đựng chiều sâu tư tưởng và đạo lý gia tộc.

Hoành phi “乾知大始” (Càn tri đại thủy) truyền tải thông điệp: Trời thấu rõ căn nguyên của muôn vật; Trời sinh ra vạn vật từ khởi thủy. Bức hoành phi này thể hiện triết lý sâu sắc về nguồn gốc và quy luật tạo hóa, đồng thời giúp hậu duệ thấu hiểu họ Nguyễn Phú hiểu đạo Trời, thuận theo lẽ tự nhiên, trân trọng đạo nghĩa và gốc rễ nhân luân.

Hoành phi câu đối từ đường chữ Thụ- Vụ- Tư

Hoành phi câu đối từ đường chữ Thụ- Vụ- Tư (受務思 / 授務思 / 樹務資… – còn tuỳ dị thể) là cổ vật Hán Nôm mang triết lý nhân sinh cao đẹp thường hiện diện tại những thánh đường của dòng tộc hoặc nhà quan lại thời xưa khắc họa tinh thần đạo học trọng nghĩa, kế nghiệp và trọng công danh.

Hoành phi câu đối từ đường họ Tống chữ Tống- từ- đường

Hoành phi câu đối từ đường họ Tống chữ Tống- từ- đường tức là từ đường của gia tộc họ Tống là chốn phụng thờ tiên tổ, ghi nhớ công đức các bậc tiền nhân và duy trì gia phong dòng họ. Tống từ đường là từ đường của gia tộc họ Tống, nơi kính thờ gia tiên và các bậc tiền nhân là biểu tượng của gia phong dòng họ, tôn vinh công đức của các bậc cao tằng và định hướng đạo lý hiếu nghĩa. Tống Đồng Đường hoặc Châu từ đường, nhưng ý nghĩa cơ bản vẫn là nơi thờ các bậc tiền nhân và duy trì truyền thống dòng họ. Tên gọi có thể thay đổi tùy theo vùng miền hoặc cách ghi trong gia phả.

Hoành phi câu đối từ đường 3 chữ Hợp- Kính- Đường

Hoành phi câu đối từ đường 3 chữ Hợp- Kính- Đường thể hiện nét đẹp uy nghi và chuẩn mực trong thờ tự hoặc phòng khách cổ điển. Hoành phi 3 chữ Hợp Kính Đường là bức đại tự nhấn mạnh vẻ tôn nghiêm và đạo hiếu cao dày, nơi chữ viết còn truyền tải thông điệp đạo lý, lễ nghĩa. Ngoài dòng chữ chính còn có chữ nhỏ ghi “Long Phi Giáp Ngọ Đông Tạo”, cho biết niên đại và người tạo tác bức hoành phi. “Giáp Ngọ” tương ứng với năm theo lịch Can Chi, trong trường hợp này có thể xác định thời gian cụ thể còn “Đông Tạo” chỉ người chế tác bức đại tự. Những chi tiết như vậy giúp bức hoành phi vượt trên chức năng trang trí, tác phẩm chính là nhân chứng, lưu giữ thông tin về thời gian, tác giả và bối cảnh ra đời.

Hoành phi câu đối từ đường họ Nguyễn

Đối với nhà thờ họ, chữ nghĩa trên hoành phi cần gửi gắm niềm tôn kính tiên tổ, đạo nghĩa cửa nhà và vị trí chi nhánh trong dòng họ. Nhiều gia tộc sử dụng dòng chữ “Nguyễn Tộc Từ Đường” để nhấn mạnh từ đường chính thức của dòng họ Nguyễn, giúp người ngoài dễ nhận biết và tôn nghiêm hóa nơi thờ cúng. Trong khi đó, một số gia tộc khác chọn “Hải Đức Sơn Công” (功 山 德 海), tôn vinh ân đức sâu dày của tiền nhân, vừa trang trọng vừa khẳng định công lao và đức độ của các bậc tiền nhân.

Hoành phi câu đối từ đường họ Vũ 4 chữ VŨ- TỘC- TỪ- ĐƯỜNG

4 chữ được khắc trên bức hoành là “Vũ tộc từ đường” (武族祠堂), nghĩa là Từ đường của dòng họ Vũ (còn đọc là Võ), “từ đường” là nơi thờ phụng các bậc tiền nhân, tưởng nhớ công đức tiền nhân và là không gian, kết nối các thế hệ trong một dòng họ. Từ “Vũ tộc” hay “Võ tộc” đều chỉ chung một họ, vốn có cùng gốc chữ Hán là 武 mang nghĩa “võ lực, uy vũ”. Vì thế, dù gọi là họ Vũ hay Võ thì đều đúng và chỉ khác nhau ở cách đọc theo vùng miền.

Hoành phi câu đối từ đường chữ tiên- lục- từ

Hoành phi câu đối từ đường chữ tiên- lục- từ là biểu tượng của truyền thống hiếu nghĩa bày tỏ đạo uống nước nhớ nguồn và niềm tri ân và tri ân với các bậc tiền nhân đồng thời khẳng định niềm tin rằng phúc đức tổ tông sẽ trường tồn cùng dòng tộc để hậu duệ được hưng thịnh cùng hưng thịnh đời đời. 3 chữ “Tiên Lục Từ” thường xuất hiện trên các đạo tự, hoành phi hoặc tại những nơi thờ cúng tổ sư, thánh hiền trong các dòng họ, đền miếu hay phủ thờ là mỹ tự mang đậm tính tôn nghiêm, gắn liền với truyền thống tôn sư trọng đạo và tín ngưỡng thờ các bậc tiền nhân. “Tiên Lục Từ” mang hàm ý “Từ đường thờ các bậc tiên hiền được hưởng phúc lộc” hay “Nơi thờ phụng các bậc tiền nhân – những người ban phúc cho con cháu đời sau”. Cụm từ này biểu thị lòng tôn kính đối với cội nguồn thể hiện niềm tin rằng ân đức và phúc phần của các bậc tiền nhân sẽ phù hộ cho hậu thế.

Hoành phi câu đối từ đường họ Phạm chữ Phạm- Thị- Từ- Đường

Hoành phi câu đối từ đường họ Phạm chữ Phạm- Thị- Từ- Đường (范氏祠堂) là cụm từ Hán – Việt dùng để chỉ nhà thờ họ Phạm, nơi thờ tự các bậc tiền nhân của một chi họ Phạm được khắc trên hoành phi, câu đối hoặc cổng tam quan của từ đường mang tính trang trọng, trang trọng, đúng chuẩn Hán tự cổ. Khi ghép với “Phạm”, nghĩa là ngành họ Phạm hoặc chi họ Phạm. “Từ đường” (祠堂) là nhà thờ họ, nơi đặt bàn thờ, bài vị, thần chủ của các đời tiên tổ để con cháu hương khói tưởng niệm. Như vậy, toàn bộ cụm từ có nghĩa: “Ngôi từ đường thờ phụng các bậc tiền nhân của dòng họ Phạm.” “Thị” (氏) chỉ một chi hay ngành nhỏ trong đại tộc còn “Tộc” (族) chỉ toàn bộ họ lớn mang nghĩa bao quát.

Hoành phi câu đối từ đường họ Bùi chữ Bùi Gia Biệt Phái

Hoành phi câu đối từ đường họ Bùi chữ Bùi Gia Biệt Phái đây là danh hiệu chỉ một nhánh riêng của dòng họ Bùi, tách biệt từ chi gốc nhưng vẫn cùng huyết thống các bậc tiền nhân.

  • Hai chữ “Biệt Phái” mang nghĩa “một nhánh riêng rẽ” đánh dấu sự phân chi trong họ tộc.
  • Từ “Biệt” chỉ sự khác nhánh còn “Phái” nói đến mạch truyền đời trong gia hệ.

Bùi Gia Biệt Phái không phải đánh dấu sự phân tách mà là dấu mốc khẳng định một chi riêng vẫn kế thừa đạo tông và giữ trọn nề nếp gia phong. Dù xa cách về địa lý hay thời gian, các chi phái vẫn cùng gốc tổ, cùng hướng về cội nguồn. Bộ câu đối gắn kèm với hoành phi thể hiện tư tưởng tôn vinh ân sâu nghĩa nặng của các bậc tiền hiền và truyền thống hiếu học, hiếu nghĩa của dòng họ.

Hoành phi câu đối từ đường chữ Thanh Tĩnh Đường

Dòng chữ “堂靜清” hay viết đúng theo trật tự Hán văn là “清靜堂” (Thanh Tĩnh Đường), xuất hiện trên nhiều hoành phi tại các nhà thờ họ, từ đường hoặc thư phòng cổ ở Việt Nam. Hoành Phi gỗ: Thanh Tĩnh Đường chứa đựng tầng ý nghĩa sâu sắc cả về đạo lý Nho – Lão – Phật thể hiện tinh thần hướng nội, thanh thoát và sự yên bình. Thanh Tĩnh Đường còn được dùng như một triết lý sống: trong cái động của cuộc đời, người có đạo đức biết giữ tâm thanh tĩnh thì mọi việc đều sáng rõ; gia đình biết thuận hòa, không tranh chấp thì phúc khí tự sinh. Vì thế, hoành phi “Thanh Tĩnh Đường” không chỉ để trang trí mà là lời răn nhắc nhẹ nhàng nhưng sâu sắc của tiền nhân, dạy con cháu giữ nếp thanh khiết trong đời sống, trong hành xử và trong cách thờ phụng các bậc tiền nhân.

Hoành phi câu đối từ đường chữ phụng- tiên- tư- hiếu

Hoành phi câu đối từ đường chữ phụng- tiên- tư- hiếu thể hiện nghĩa cử tri ân tiên tổ đối với các bậc tiền nhân, nhấn mạnh đạo lý và truyền thống gia đình. Vế đối đi kèm, “Tiên hữu thế dư khương (khánh), nhân cơ nghĩa chỉ” và “Hậu côn thùy ấm viễn, tích thụ kim hoa”, mở rộng ý nghĩa về sự kế thừa truyền thống, nối tiếp đạo đức và giá trị tinh thần từ tiền nhân đến hậu thế.

Hoành phi câu đối từ đường chữ PHỤNG- TIÊN- TƯ mẫu 2

Hoành phi từ đường với cụm chữ “Phụng Tiên Tư” chứa đựng tầng ý nghĩa sâu sắc trong văn hóa thờ tự của các dòng họ Việt Nam. “Phụng Tiên Tư” mang hàm ý “Đền thờ phụng các bậc tiên linh” hoặc “Từ đường tôn thờ các vị tiên hiền, các bậc tiền nhân đắc đạo,” biểu thị sự tôn kính và lòng tri ân đối với các bậc tiền nhân, thần linh và các bậc tiền nhân có công đức. Trong cụm từ này, Phụng (奉) nghĩa là phụng thờ, cung kính bằng tất cả lòng thành; Tiên (先) chỉ người đi trước, tức các bậc tiền nhân, ông bà, cha mẹ; còn Tư (思) mang nghĩa tưởng nhớ, hoài niệm. Như vậy, “Phụng Tiên Tư” (奉先思) được hiểu là “Kính cẩn thờ phụng và tưởng nhớ các bậc tiền nhân,” nhấn mạnh lòng hiếu đạo, tri ân nguồn cội và giúp hậu duệ thấu hiểu giữ gìn lễ nghĩa, đạo hiếu trong đời sống. Khi đọc chữ Hán cổ, cần lưu ý phân biệt “Tư” (思) và “Ân” (恩) do hình thể tương tự; chữ Ân có bộ tâm (心) bên dưới, còn chữ Tư có bộ điền (田) ở giữa và tâm ở dưới, với nghĩa lần lượt là ơn huệ và tưởng nhớ.

Hoành phi phòng thờ từ đường chữ Phụng- Tiên- Tư- Hiếu mẫu 3

Hoành phi câu đối phòng thờ từ đường chữ Phụng- Tiên- Tư- Hiếu mẫu 4

Hoành phi gỗ thờ chữ phụng tiên tư hiếu mẫu 5

Hoành phi gỗ phòng thờ chữ Phụng tiên tư hiếu mẫu 6

Hoành phi câu đối phòng thờ từ đường chữ kính- nhớ- tổ- tiên

Hoành phi câu đối kính nhớ các bậc tiền nhân ca ngợi đức hiếu thảo, sự hòa thuận, tinh thần tôn kính các bậc tiền nhân đồng thời nhấn mạnh duy trì và kiến tạo gia phong tốt đẹp từ đời này sang đời khác. Nội dung vừa là thông điệp răn dạy vừa gói trọn niềm tôn kính cho không gian.

Hoành phi câu đối từ đường chữ Chi- Lan- Cánh- Tú- Ngọc Thụ Sinh Hương

Tích “Chi Lan Ngọc Thụ” được trích dẫn từ sách Thế Thuyết Tân Ngữ của Lưu Nghĩa Khánh (thời Đông Tấn). Ý nói: mong con cháu nhà họ Tạ như chi lan ngọc thụ, được nuôi dưỡng trong nền nếp tốt đẹp, đời đời hưng thịnh, thơm danh muôn đời. Quả nhiên, gia tộc họ Tạ sau đó trở thành một trong những danh gia vọng tộc bậc nhất, lời khẳng định cho ý nghĩa sâu xa của câu nói này.

Tư vấn bởi:

Nghệ nhân với hơn 20 năm kinh nghiệm trong làng nghề Canh Nậu. Chuyên gia tư vấn phong thủy bàn thờ chuẩn cung số Tài Lộc cho gia chủ tại địa điểm Vách ngăn cnc- nội thất Shome tại Thanh Xuân, Hà Nội và toàn quốc.

Sản phẩm liên quan