2 DÒNG LẠC KHOẢN TRÊN CÂU ĐỐI

Lạc khoản là phần ghi chú ở cuối 1 hoặc 2 vế câu đối thường nằm phía dưới mép trái hoặc phải để ghi tên người đề tặng, người viết, niên hiệu hoặc nơi chốn. Lạc khoản không giúp xác định tác giả hay người cúng tiến, mà bày tỏ lòng hiếu nghĩa của các thế hệ hậu duệ với tổ tiên. 1 ví dụ điển hình là câu đối có dòng lạc khoản: “Thạc sĩ Đinh Thu Hà đồng gia phụng tiến” – nghĩa là bà Thạc sĩ Đinh Thu Hà cùng nhà thành kính dâng câu đối hoặc lễ vật thờ lên tổ tiên diễn tả tâm nguyện thành kính dâng hiến và hiếu nghĩa. Cụm từ “phụng tiến” (奉進) thường được dùng trong các văn bia, hoành phi câu đối để chỉ dâng lễ vật cho nhà thờ, đền, miếu hoặc từ đường. Dòng lạc khoản thứ 2: “Nhâm Ngọ niên trọng hạ cát nhật” ghi lại thời gian cúng tiến nghĩa là ngày lành giữa mùa hạ 5 Nhâm Ngọ, tương ứng với 5 2002 theo Dương lịch. “Trọng hạ” chỉ thời điểm giữa mùa hạ còn “cát nhật” là ngày tốt dùng để khắc ghi trong các văn bản cúng tiến hoặc công trình thờ tự. Diễn giải đầy đủ 2 dòng lạc khoản hiểu như sau: “Vào 1 ngày tốt giữa mùa hạ 5 Nhâm Ngọ (2002), Thạc sĩ Đinh Thu Hà cùng nhà thành kính phụng tiến cặp câu đối để dâng cúng.” Lạc khoản vì thế vừa là ghi chép về người cúng tiến và thời điểm thực hiện vừa là biểu hiện trang trọng của lòng hiếu kính với tổ tiên, lưu lại dấu ấn truyền thống và giá trị đạo lý.
Hoành phi câu đối nhà thờ họ Mạc chữ Kim lai cổ vãng
Hoành phi câu đối thờ chữ Tùng tiết cao ngất- Xuân thương cùng dâng
Dịch Đôi câu đầu và cây nóc nhà